CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bà Rịa - Vũng Tàu khẳng định tiềm năng, nâng tầm hội nhập
Thứ ba, 18/6/2024

Từ tác phẩm đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến quy định số 144-QĐi/TW của Bộ Chính trị - Giá trị xuyên suốt công tác xây dựng đạo đức cách mạng trong Đảng

Thứ Sáu, 31/05/2024 - 16:02
Đọc bài viết In bài E-mail - + - + Chia sẻ

Quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng luôn quan tâm xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bởi vì, làm cách mạng “là một công việc to tát”(1), nếu không có đạo đức cách mạng “thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân”(2). Bài viết khái quát đôi nét hoàn cảnh, mục đích viết tác phẩm Đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên (Quy định số 144-QĐi/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị); nội dung chuẩn mực đạo đức cách mạng được Đảng kế thừa, cụ thể hóa và bổ sung trong giai đoạn mới; giá trị lý luận và thực tiễn từ nghiên cứu nội dung chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên với sự phát triển đất nước hiện nay.


Đôi nét tương đồng về hoàn cảnh, mục đích viết tác phẩm Đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quy định số 144-QĐi/TW của Bộ Chính trị. 

Tác phẩm Đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết đăng trên Tạp chí Học tập, số 12 năm 1958, trong bối cảnh cách mạng Việt Nam có bước phát triển vượt bậc. Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, miền Bắc được giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm hậu phương lớn đối với cách mạng miền Nam; cách mạng miền Nam phải tiếp tục cuộc đấu tranh để được giải phóng. Nên mỗi người dân, cán bộ, đảng viên nhất là miền Bác phải nỗ lực hơn nữa để thực hiện nhiệm vụ “quyết định nhất đối với sự phát triển toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà”(3). Tuy nhiên, miền Bắc bước vào khôi phục kinh tế, văn hóa, xã hội, hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thì xuất hiện trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có tâm lý thời bình, biểu hiện suy thoái đạo đức và cá nhân chủ nghĩa trở thành căn bệnh, thành nguy cơ suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng. Nhận thức rõ những khó khăn đó, Bác đã viết tác phẩm Đạo đức cách mạng.

Quy định số 144-QĐi/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị được Đảng ban hành trong bối cảnh đất nước trải qua hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng (1986-2024) đã “đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử… Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”(4). Tuy nhiên, tình hình thế giới đang có những “diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”; trong Đảng còn “một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(5); mục tiêu phát triển đất nước mà Đảng đặt ra là rất lớn, “đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao”(6). Vậy nên, Đảng đã đề ra chuẩn mực đạo đức cách mạng để mỗi cán bộ, đảng viên “tự soi, tự sửa”, tự điều chỉnh nhằm đáp ứng nhiệm vụ cách mạng.

Như vậy tác phẩm Đạo đức cách mạng và Quy định số 144-QĐi/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị đều ra đời trong điều kiện cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có tính bước ngoặt; hướng đến mục tiêu mỗi cán bộ, đảng viên tự soi chiếu bản thân, không ngừng nỗ lực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác để Đảng hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo trước Nhân dân, đất nước.

Nội dung đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên được kế thừa, cụ thể hóa và bổ sung trong giai đoạn mới.

Tác phẩm Đạo đức cách mạng phân tích ba vấn đề: Vai trò và kẻ thù của đạo đức cách mạng; nội dung cơ bản và những chuẩn mực đạo đức cách mạng; tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đấu tranh loại trừ chủ nghĩa cá nhân. Quy định số 144-QĐi/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị gồm 6 điều, 21 điểm, nêu 5 chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên: “Yêu nước, tôn trọng Nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm; gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời”(7).

Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới đã kế thừa, cụ thể hóa và bổ sung từ tác phẩm Đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ thể:

Về sự kế thừa, cụ thể hóa: Tác phẩm Đạo đức cách mạng, đề cập những chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên: “Quyết tâm suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân; ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng; đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng, cải tiến công tác của mình, cùng đồng chí mình tiến bộ; hòa mình với quần chúng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, tuyên truyền và vận động quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và Nghị quyết của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống mọi kẻ địch”(8). Nội dung này được Đảng đề cập trong một số điều, khoản Quy định số 144-QĐi/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị, như:

Khoản 1, 2, 3 của “Điều 1. Yêu nước, tôn trọng Nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc: 1. Suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng…; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; 2. Tôn trọng, tin tưởng, gần gũi và gắn bó mật thiết với Nhân dân...; 3. Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân”;

Khoản 1, 2 của “Điều 2. Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập: 1. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; 2. Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị”;

Khoản 1, 4 của “Điều 3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: 1. Tâm huyết, trách nhiệm, dấn thân, nỗ lực hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao...; 4. Trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, tích cực đấu tranh tự phê bình và phê bình... ”;

Khoản 1, 3 của “Điều 4. Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm: 1. Luôn luôn giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, cơ quan, tổ chức và trong Nhân dân, trước hết là ở chi bộ, cơ quan, đơn vị công tác, khu dân cư...; 3. Sống có nghĩa tình, chân thành, thương yêu, đối xử, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp và mọi người theo lẽ phải, phù hợp với đạo lý dân tộc, cùng nhau tiến bộ”;

Về sự bổ sung: Từ thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, nhất là hơn 35 năm đổi mới (1986-2024); công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt một số kết quả nổi bật và cũng cần quy định cụ thể hơn các chuẩn mực đạo đức cách mạng để cán bộ “tự soi, tự sửa”, tự điều chỉnh; nhằm phát huy trí tuệ, sức sáng tạo, toàn tâm ý của cán bộ, đảng viên cho sự nghiệp xây dựng và bảo về Tổ quốc trong giai đoạn mới, Đảng đã bổ sung các chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, thể hiện: 

Khoản 3, 4 của “Điều 2. Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập: 3. Xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân; 4. Chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng; năng lực công tác, làm việc trong môi trường quốc tế...”; 

Khoản 2, 3 của “Điều 3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: 2. Quản lý, sử dụng tài sản công đúng mục đích, đúng quy định; tiết kiệm và hiệu quả; không xa hoa, lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức và các nguồn lực vật chất khác của tập thể và cá nhân; 3. Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”;

Khoản 2, 4 của “Điều 4. Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm: 2. Nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương, nhất là kỷ luật phát ngôn. Nói và làm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành các quy định của cơ quan, đơn vị; phục tùng sự phân công của Đảng, của tổ chức; 4. Nêu cao trách nhiệm trong công tác và sinh hoạt; sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đấu tranh, phê phán mọi hành vi né tránh, đùn đẩy, hoặc có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, không dám làm. Làm tốt trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ đối với gia đình, cộng đồng, xã hội”.

Khoản 1, 2, 3 của “Điều 5. Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời”.

Nghiên cứu chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên từ tác phẩm Đạo đức cách mạng của Bác đến Quy định số 144-QĐi/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn cách mạng hiện nay, thể hiện:

Một là, các quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng nêu trên là kết quả quá trình chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước. Gần 95 năm qua (1930-2024), từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng luôn trăn trở, chăm lo công tác xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, bởi đó là nhân tố quyết định thành quả phát triển của cách mạng, “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Từ thực tiễn mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã xây dựng, bổ sung nội dung chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Hai là, là sự khẳng định vị trí, vai trò không thể thay thế của Đảng trong lãnh đạo cách mạng từ khi Đảng được thành lập đến nay. Trước năm 1930, trong bối cảnh “nước mất, nhà tan”, đất nước đắm chìm trong đêm dài nô lệ, với tình yêu nước, thương dân sâu sắc, Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(9). Thể hiện ý chí dám dấn thân vì độc lập, tự do Tổ quốc, vì hạnh phúc Nhân dân của Bác và lớp Lãnh đạo của Đảng đã sẵn sàng hy sinh cả bản thân mình, như đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ và rất nhiều chiến sỹ cộng sản trung kiên khác, góp phần làm nên những thắng lợi to lớn của dân tộc Việt Nam: “Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc”(10), thắng lợi của sự nghiệp đổi mới hơn 35 năm (1986-2024) nâng tầm vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Điều này làm nên sự vĩ đại của Đảng trong lòng dân tộc mà sinh thời Bác từng khẳng định: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!”(11).

Ba là, thể hiện tình thương yêu sâu sắc và trách nhiệm của Bác, của Đảng đối với cán bộ, đảng viên trước vận mệnh quốc gia, dân tộc. Vì “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(12) và “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”(13). Trong giai đoạn cách mạng mới, nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước “đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao”(14) cần cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, toàn tâm ý cho sự phát triển của đất nước.

Bốn là, từ chuẩn mực đạo đức cách mạng mà mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng “tự soi, tự sửa”, tự điều chỉnh để không ngừng học tập, rèn luyện nhằm gìn giữ, phát huy thành quả cách mạng của Đảng, đáp ứng mong đợi của người dân và nhiệm vụ cách mạng của đất nước trong giai đoạn mới. Quy định cũng nêu rõ: “Cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần gương mẫu, thực hiện nghiêm Quy định này”(15). Đồng thời làm căn cứ để Đảng, Nhân dân đánh giá, ghi nhận sự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ.

----------------------------------------

1. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.15, tr.293.
2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.15, tr.292.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, t.21 (1960), NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.510.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.104.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.92.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.112.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Quy định số 144-QĐi/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, Hà Nội, tr.1-4.
8. Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), Giới thiệu một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.136-137.
9. Trần Dân Tiên (2005), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Trẻ - Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.14.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.63.
11. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.12, tr.400.
12. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.269.
13. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.240. 
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.112.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2024), Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, Hà Nội, tr.4.

 

TS. Nguyễn Huy Phương
Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu
 


Đánh giá: